Mối cánh cũng nguy hiểm như những dạng mối khác trong họ mối. Mối cánh hay mối cánh dài là do mối non trải qua một số lần lột xác mà thành. Chúng cũng đi kiếm ăn như mối lao động.

loai moi canh

Hàng năm vào cuối mùa xuân khi áp xuất không khí thích hợp, nhất là vào trước các cơn mưa giông hoặc lúc hoàng hôn mối sẽ ra ngoài để kiếm ăn, giao hoan và phân đàn. Đặc biệt, trong thời gian bay ra tổ, mối cánh đực sẽ đi tìm một con cái, cắn đuôi rồi đi tìm nơi cư trú, lập thành một đàn mối mới.

Mối lính có phần bụng màu trắng sữa đến trắng vàng, đầu màu vàng. Đầu hình ovan hoặc hình trứng

mối lính

Được phân hóa từ mối thợ và thường không đông. Mối lính lớn hơn mối thợ nhiều và chúng có cái đầu rất to chúng có nhiệm vụ bảo vệ tổ mối, đánh đuổi kẻ thù bảo vệ đàn mối. Bộ hàm giống như một cặp kéo, một số khác lại có một bộ hàm giống như mỏ (là vũ khí lợi hại của chúng), có con còn có tuyến dịch hàm tiết ra chất nhũ trắng, khi đánh nhau có thể phun ra làm mê đối phương. Giác quan hai bên miện của mối lính rất phát triển, khi cần mối thợ phải cho mối lính ăn.

Giai tầng mối lính có đặc điểm giải phẫu và hành vi đặc biệt, với sức mạnh và áo giáp để ngăn chặn sự tấn công của kiến. Tỷ lệ mối lính trong một tập đoàn thay đổi tùy theo bầy và loài. Nhiều mối lính có cặp ngàm rất to khiến chúng không thể tự kiếm ăn, thay vào đó chúng được mối thợ nuôi giống như ấu trùng. Phân họ mối nhiệt đới Nasutitermitinae có khả năng tiết ra chất độc qua những gai sừng (nasus). Những lỗ đơn giản trên trán gọi là hạch “fontanelles” mà từ đó tiết ra chất độc là đặc điểm của họ Rhinotermitidae. Nhiều loài mối được nhận dạng dựa trên đặc điểm đầu, càng hay gai sừng của mối lính. Trong số những loài mối gỗ khô (drywood), đỉnh đầu (globular) của mối lính được dùng để chặn đường hầm hẹp. diệt Mối lính thường mù, nhưng ở một số họ mối, đặc biết là những loài mối gỗ ẩm (dampwood), mối lính sinh ra từ một dòng nhất định có thể có mắt hoạt động một phần.

Nhiệm vụ của giai tầng mối lính chủ yếu là phòng vệ trước sự tấn công của kiến. Có vô số kiểu càng và đỉnh đầu (phragmotic) tạo ra những nguyên tắc ngăn chặn đường hầm hẹp khỏi những kẻ thâm nhập một cách hiệu quả. Một mối lính chặn hầm có thể chống cự với sự tấn công của rất nhiều kiến. Thông thường, có rất nhiều mối lính dự bị đàng sau con đầu tiên vì vậy, nếu con đầu ngã xuống thì con khác sẽ thay thế. Trong trường hợp những kẻ thâm nhập đến từ kẽ hở rộng hơn đầu mối lính, việc phòng vệ sẽ đặc biệt hơn khi các mối lính hình thành một phòng tuyến (phalanx-like) xung quanh kẽ hở và cắn những kẻ thâm nhập hoặc tiết ra chất độc từ gai sừng hay hạch. Đây là phòng tuyến cảm tử bởi một khi mối thợ sửa xong kẽ hở trong lúc trận chiến đang diễn ra, chúng không thể quay về nữa do đó tất cả chiến binh đều tử trận. Một dạng cảm tử khác được thực hiện bởi loài mối tar-baby Đông Nam Á (Globitermes sulphureus). Mối lính của loài này cảm tử dưới hình thức tự hủy (autothysis) – chúng tự đoạn một túi keo lớn nằm ngay bên dưới lớp sừng (cutile). Chất lỏng màu vàng trong túi keo trở nên rất dính khi tiếp xúc với không khí, dính chặt kiến và những loài côn trùng khác khi chúng tấn công tổ mối.

Mối trải qua quá trình biến hình bất toàn (incomplete metamorphosis). Mối non mới nở dưới hình dạng bé xíu mà không thay đổi gì nhiều (ngoài cánh và những đặc điểm của mối lính). Một số loài mối có mối lính lưỡng hình (dimorphic) (to gấp ba lần mối lính bình thường). Mặc dù công dụng vẫn chưa rõ ràng, nhưng có lẽ chúng hình thành một đẳng cấp ưu tú để phòng vệ cho những đường hầm bên trong gò mối. Bằng chứng cho lập luận này đó là dẫu bị khiêu khích, những con mối lính to xác này không hề chống cự mà chỉ rút sâu vào bên trong gò mối. Mặt khác, mối lính lưỡng hình rất phổ biến ở một số loài mối Úc thuộc họ Schedorhinotermes mà chúng không xây gò cũng như duy trì cấu trúc tổ phức tạp. Một số nhóm mối gỗ không có mối lính; có lẽ được biết đến nhiều nhất là các loài thuộc họ Apicotermitinae.

Mối thợ có đầu hình tròn, toàn thân màu trắng, hình thuôn dài, tương đối trong. Riêng mặt lưng của phần bụng có thể có vết xám đen, hơi hồng là do màu của thức ăn trong ruột mối

mối thợ

Mối thợ thường nhỏ hơn các thành viên khác trong đàn nhưng số lượng lại đông hơn. Chúng có nhiệm vụ xây dựng và sửa chữa tổ, chuẩn bj thức ăn và nuôi dưỡng các thành viên khác trong đàn. Chúng coi sóc trứng, ấu trùng và nhộng.

Mối thợ dùng đồ ăn và bùn, qua gia công kỹ lưỡng dính vào nhau để xây tổ. Có tổ mối chính và tổ mối phụ, là nơi chủ yếu để tập đoàn mối hoạt động và sinh sống. Ở Châu Phi, có loài Mối xây tổ thành gò cao trên mặt đất tới hơn 10m và rất chắc chắn tựa như pháo đài, thành lũy vậy.

Mối chúa bắt đầu cuộc đời của mình như một con cái giống, với những chiếc cánh. Cùng với nhiều con cái khác và những con đực có cánh, nó bay ra khỏi tổ, nơi nó đã sinh ra. Đó là sự chia đàn. Nó hạ cánh ở một nơi nào đó, hai cánh bị mất đi và kết đôi với một con đực. Như vậy, chúng đã tạo ra được một tập đoàn mới. Sau lần cặp đôi và đẻ trứng đầu tiên, mối chúa chỉ đẻ 5 – 25 trứng, tùy theo loài. Sức sinh sản này tăng dần theo tuổi. Trong 1 tổ mối, có thể có nhiều mối chúa nên sức sinh sản của 1 đàn mối cực kỳ lớn. Một số loài có khả năng duy trì tuổi thọ của đàn tới gần 100 năm.

mối chúa

Mối chúa có thể sinh sản theo cả hai hình thức hữu tính và vô tính.

Những con mối được sinh sản vô tính hếu hết đều sẽ trở thành kẻ nối nghiệp – gọi là “mối chúa thứ cấp” – sống trong tổ mối và giao phối với mối đực. Dòng mối con vô tính được sinh ra với số lượng lớn này không mang những nguy cơ bẩm sinh bởi mối chúa thứ cấp không có chứa gen nào giống với mối vua.

Nghiên cứu cho thấy mối con được sinh ra theo cách cũ giữa mối chúa sơ cấp hay mối chúa thứ cấp với mối vua hầu hết đều là thợ hoặc lính ở cả hai giới.

Loài mối Reticulitermes speratus sống dưới đất được nghiên cứu là côn trùng gây thiệt hại kinh tế lớn.

Tổ mối thường được thiết lập và duy trì bởi một mối vua và một mối chúa. Trong số các tổ này, mối chúa sơ cấp không có mặt nhưng lại có rất nhiều mối chúa thứ cấp. Ngược lại, hầu hết mối vua đều có ở tổ. Mối vua sống thọ hơn mối chúa sơ cấp, do đó cần thiết phải có những kẻ nối dõi mối chúa giống về mặt di truyền để cai trị tổ mối.

Phân tích di truyền của tổ mối cho thấy mối chúa thứ cấp có gen giống với mối chúa sơ cấp nhưng không giống bộ gen của mối vua, điều này cho thấy có sự tồn tại của sinh sản vô tính. Cùng lúc đó, mối thợ và mối lính dù là đực hay cái đều mang gen của cả mối chúa và mối vua, nghĩa là chúng được sinh sản hữu tính.

Theo nghiên cứu bằng cách tìm hiểu các loài mối khác có hai hệ thống giao phối. Di truyền học đứng đằng sau sinh sản có thể mang lại các phương pháp ngăn cản sinh sản ở một số vị trí nhất định trong tổ mối – ví dụ như ở loài mối chúa có hai cách sinh sản – hoặc mang lại những biện pháp loại bỏ những chức năng gen của những cá thể đảm nhận các vị trí đó.

Họ mối đất Termitidae Westwoood  ở nước ta có 16 giống trong đó có giống Macrotermes và Odontotermes thường phát hiện thấy ở công trình xây dựng nhưng không nghiêm trọng bằng Coptotermes với đặc điểm hình thái : vảy cánh trước mối cánh trưởng thành chỉ to hơn vảy cánh sau, tấm lưng ngực trước hẹp so với đầu, gân kính thoái hóa hoặc thiếu, phần trước của tấm lưng ngực trước của mối lính và mối thj cong lên, Lông đuôi 1 – 2đốt, bàn chân 4 đốt, có thóp.

mối đất

1.Giống mối Macrotermes holmgren

Mối lính:
Có hai loại hình, mối lính to và mối lính nhỏ, Hai bên đầu song song, hoặc thường hẹp ở phần trước. Trán bằng , thóp có dạng chấm. Giữa 2 môi trên rất rộng, đỉnh môi có một mảnh nhỏ thấu quang(trong suốt) hàm trên cong lên như lưỡi kiếm, Gốc hàm trên bên trái có một vết khuyết, có răng ở gốc hàm tương đối rõ , còn ngoài ra không có răng, hàm trên bên phải ngoài răng ở góc hàm ra cũng không có răng, Râu đầu có 17 đốt. đốt thứ 3 thường dài hơn đốt thứ 2 tấm lưng ngực trước có hình yên ngữa, mép trước và mép sau đều có vết lõm vào trong
Mối cánh: Có đầu hình trứng, thóp rõ , hơi nhỏ và cao, mắt đơn to, thân sau môi hơi nhô lên có chiều dài bằng nửa chiều rộng, mép sau hình vòng cung, mép trước thẳng, râu đầu 19 đốt , đốt thứ 3 dài hơn đốt thứ 2 . Mép sau của tâm lưng ngực giữa và ngực sau lõm vào trong, Gân chầy vươn từ vảy cánh, Gân giữa cánh trước từ ngấn mông vươn ra độc lập, Gân giữa cánh sau phần lớn từ gốc gân mà vươn ra, Vách của bên bụng mối vua ít điểm màu sắc  ở nước ta có 7 loài . Năm 1997 Ng Tân Vương bổ sung 7 loài ở Việt nam đưa tổng số lên 14 loài trong đó có 2 loài thường thấy trong giống Macrotermes ở Bắc việt nam là M. annandalei, và M. Barneyi

Mối đất Macrotermes annandalei Silvestri

Hình thái: Loại này có 2 loại hình mối lính to và mối linh nhỏ, mối thợ to và nhỏ

Mối lính to
Mặt bụng và mặt lưng của đầu có màu nâu tối, ngực và bụng có màu nâu, đầu bằng và dẹp Nhìn từ phía trên đầu có hình thang dài , rộng phía sau, hẹp phía trước ,Đầu có chiều dàu lớn hơn chiều rộng rõ ràng, thóp nhỏ đỉnh ở trung điểm phần lưng của đầu, ở trung điểm hàm trên bên trái có một vết lõm nông và một vết lõm hơi sâu, PHần trước của hàm trên bên trái không có răng, hàm trên bên phải cũng không có răng mà ở phần gốc cũng không có răng và vết lõm. Môi trên hình lưỡi. đỉnh của môi trên có mảnh tam giác thấu quang, Râu đầu 17 đốt. đốt thứ 3 có độ dài bằng 1,5 – 2 lần đốt thứ 2. đốt thứ 4 ngắn hơn đốt thứ 3 rõ ràng. Chiều dài toàn thân 13 – 14 mm. chiều dài của đầu liền với hàm trên 6,5 -7 mm
Mối lính nhỏ: Thân hình nhỏ hơn mối lính một cách rõ ràng, màu sắc cũng giống mối lính lớn, toàn thân dài 8-9 mm chiều dài đầu liền với hàm trên 4,22-4,44 mm
Mối cánh trưởng thành :Đầu, ngực, bụng màu tối, chân màu vàng nâu, cánh màu vàng, chân môi sau màu vàng tối, đầu hình trứng rộng, mắt kép hình tròn dài, mặt đơn hơi tròn. Cự ly giữa mắt đơn và mắt kép nhỏ hơn độ rộng của bản thân mắt đơn, Râu đầu có 19 đốt. Vẩy cánh trước hơi to hơn vảy cánh sau. Mép trước của tấm lưng ngực trước lõm về phía sau, mép sau hơi hẹp. ở giữa vướng về trước cong vào, ở trước trung điểm của tấm lưng ngực trước có hình chữ thập màu nhatk. Phía trước hai bên hình chữ thập này có chấm hình tròn hoặc hình quả thận màu nhạt.
Mối thợ lớn :Bụng có màu nâu hồng, Mép bên và mép sau của đầu liên kết với nhau thành hình tròn. Thóp ở giữa đỉnh đầu hoặc hình tròn không hoàn chỉnh, to mà rõ , râu đầu 17 -19 đốt

Mối thợ nhỏ: Thân thể nhỏ hơn mối thợ lớn rõ ràng, màu sắc cũng giống nhau, thóp ở phía sai trung điểm đỉnh đầu

 Loại này chủ yếu sống trong đất , tổ mối 1 phần dưới mặt đất, một phần ở trên mặt đất như cái mả. trong tổ có vườn nấm . Mùa bay giao hoan vào tháng 5 ,6, trước mùa giao hoan mối xây một phòng chờ vũ hóa. Bên trong có nhiều mối cánh chờ giao hoan, Khi nào có điều kiện thích hợp mối cánh mới bay ra ngoài. Thức ăn là những cây cỏ. gỗ chôn trong đất bắt đầu mục. rễ thực vật chất mùn , phá hoại chân cột nhà ở trung du miền núi

Phân bố: Đông phương , ở nước ta trừ vùng đồng bằng bắc bộ còn phân bố toàn bắc Việt nam

Mối to cánh vàng Macrotermes barneyi Light

Mối lính lớn: Thân hình lớn, ho nhỏ hơn mối lính của Macrotermes annandalei .Đầiu lớn, nhìn từ trên đầu có hình chữ nhật, chỗ rộng nhất ở giữa hoặc ở phía sau của đầu, phía trước đầu hơi hẹp lại, thóp rất nhỏ, râu đầu có 17 đốt.

Mối lính nhỏ: Thân thể nhỏ hơn mối lính lớn rõ ràng, thân màu sắc hơi nhạt hơn, râu đầu 17 đốt

Mối cánh: Màu sắc và hình thái giống như mối cánh Macrotermes annandalei nhưng đầu và tấm lưng ngự trước hơi ngắn và hep hơn loài M. Anandalei
Mối thợ lớn : Chiều dài tương đương vớ mối lính nhỏ cùng loại , râu đầu 17 đốt

Mối thợ nhỏ: Thân hình nhỏ hơn mối thợ lớn rõ ràng, màu sắc giống nhau
Tập tính của loài này giống Macrotermes annandalei. Nhưng tổ của M Bayrneyi là ở hoàn toàn dưới mặt đấy, thức ăn của chúng là rễ cây công nghiệp, cây ăn quả phá hoại gỗ kiến trúc, trong tổ có vườn nấm.

Phân bố:
Đông phương – Ở bắc Việt nam tìm thấy ở vùng núi và trung du

2. Giống mối đất Odontotermes Holmgren
Giống mối đất Odontotermes Holmgren  ở Việt Nam có 10 loài, trong đó có 4 loài phổ biến : Odontotermes formosanusm Odontotermes Hainanensism Odontotermes Yunnanensis và Odontotermes sumatrensis

Đặc điểm chung:

Mối lính: Đầu dài so với rộng phía trước thường hép , trán bằng , thóp không rõ ràng môi trên không có mảnh nhọn thấu quang, mép bên có lông dài, Hàm trên cong hình lưỡi liềm, Hàm trên bên trái có một răng sắc nhọn, cá biệt ở phần gốc có 3-4 vết lõm. Râu đầu có 15-18 đốt Tấm lưng ngực có hình yên ngữa

Mối cánh: Đầu hình trứng rộng gần như hình tròn, thóp rõ ràng, chân môi sau nổi lên, màu sắc nhạt hơn so với đỉnh đầu, hoặc rất ngắn hoặc có chiều dài bằng nửa chiều rộng, Râu đầu có 19 đốt , đốt thứ 3 thường ngắn hơn đốt thứ 2 , Tấm lưng ngực trước thường thường có hình chữ thập màu nhạt, và 2 bên mỗi bên có 1 chấm. Mép sau của tấm lưng ngực giữa và sau lõm vào trong dạng hình cung, Cánh có màu trong cho đến nâu tối, Tấm bên của bịng mối chúa có nhiều chấm nâu, Giống này được chia ra làm 2 phân giống đựa vào đặc trưng sau:
1. Mép trong góc hàm trên bên trái của mối lính có một tăng, dính ở vị trí không giống nhau, Mối cánh trưởng thành có thóp lồi lên
phân giống Odontotermes(Odontotermes)

2. Mép trong gốc hàm trên bên trái của mối lính có 3-4 vết lõm ngoài những vết lõm này ra không có răng, Mối cánh trưởng thành có thóp tự mở

Phân giống Odontotermes (Hypotermes) chung: 4 loài phổ biến tại việt nam

Mối đất cánh đen Odontotermes formosanus Shiraki
Mối lính: Có màu vàng tối, bụng màu vàng nhạt đến trắng xám, đầu có lông thưa mặt bụng của ngực có lông tương đối vàng, Nhìn từ mặt lưng , đầu có hình trứng dài lớn hơn rộng, chỗ rộng nhất ở phía sau trung điểm của đầu, phía trước đầu hẹp lại, hàm trên hình lưỡi liềm, Phía trước trung điểm của hàm trên bên trái có 1 răng rõ ràng, đỉnh nhon của răng hướng về phía trước, răng của mép trong hàm trên bên phải đối xứng với hàm trên bên trái có 1 răng rất nhỏ không rõ ràng, Môi trên hình lưỡi, hẹp trước rộng sau, đỉnh không có mảnh thấu quang, hai bên hình vòng cung, ĐỈnh môi trên không đạt đến trung điểm của hàm trên, Râu đầu 15-17 đốt
Mối cánh: Mặt lưng của đỉnh đầu ngực, bụng có màu nâu đen, toàn thân có lông dày, đầu hình tròn, mắt kép hình tròn dài, mắt đơn cũng hình tròn dài, cự ly giữa mắt đơn và mắt kép bằng độ dài của bản thân mắt đơn. Râu đầu có 19 đốt, đốt thứ 2 dài hơn đốt thứ 3 , hoặc đốt thứ 4, 5
Mối thợ : Đầu có màu vàng, ngực bụng màu trắng xám, mép bên và mép sau của đầu cong hình tròn, thóp ở giữa đỉnh đầu, làm thành đường rãnh hình tròn nhỏ, râu đầu 17 đốt , đốt thứ 2 dàu hơn đốt thứ 3
Tổ mối ở dưới đất có những cây cỏ ở trong thân đê đập , Mùa bay giao hoan từ tháng 4 , đến tháng 6 . Mối cánh bay ra có khi tới 2000 đến 3000 cá thể , có khi đến 9000 cá thể đối một tổ lớn, tổ có vườn nấm
Thức ăn của mối này là những phần gỗ tiếp xúc với đất như cột nhà, cột điện, tà vẹt ngoài ra mối còn ăn vỏ cây sống như Bạch đàn, Phi lao, sắn . tếch

Phân bố: Vùng đông phương – toan miền bắc Việt Nam

Mối đất Hải nam Odontotermes Hainanensis Light

Mối lính: Thân hình nhỏ hơn mối lính Odontotermes formosanus . Đầu nâu vàng thâm, bụng vàng nhạt hoặc trắng xám , hơi có mày hồng, đầu nhìn từ trên có hình tròn dài, cong đều 2 bên, độ rộng nhất của đầu ở chính giữa, Hàm trên không to lắm. chỉ ở phần trước của hàm cong vào giữa . KHoảng 1/3 mặt trong hàm trên bên trái về phía trước có 1 răng nhọn. Đỉnh răng hướng về phái trước, còn hàm trên bên phải ở phía trước trung điểm có 1 răng dạng hạt không rõ ràng. Râu đầu có 15-16 đốt , đốt thứ 2 dàu hơn đốt thứ 3 và đốt thứ 4.
Mối cánh:  Màu sắc giống Odontotermes formosanus mắt đơn và mắt kép cách xa nhau cự ky mắt kép lớn hơn độ dài của mắt đơn
Mối thợ:  Đầu vàng thẫm, bụng màu xám tro, Râu đầu 17 đốt.
Tổ mối nằm dưới mặt đất 30 – 60 cm có khi sâu hơn, đường mui nhỏ hơn Odontotermes formosanus có khi đường mui phát triển thành những mảng đất mỏng bao quanh chân cột hoặc gốc cây , tổ có vườn nấm.
Mối cánh có trong tổ từ tháng 3 mỗi năm và bay ra vào tháng 5,6

Mối đất Vân Nam Odontotermes yunnanensis Tsai et chen

Mối lính: Màu vàng thẫm, đầu có dạng hình chữ nhật, và hình trứng tròn, mép bên gần như thẳng, phía trước hơi hẹp, rộng nhất là sau đầu thóp ở vị trí ¼ phần đầu trước, hàm trên khoẻ, dạng lưỡi kiếm, trước hàm cong vào giữa, Phía sau trung điểm của hàm trên bên trái có 3 răng nhỏ hình tam giác, đỉnh hướng vào phía trong, cũng ở vị trí này ở hàm bên phải có một răng nhỏ và không rõ ràng. Râu đầu 17 đốt, dốt thứ 2 dài hơn đốt thứ 3 , các đốt sau ngắn
Mối cánh: So với Odontotermes formosanus thì hơi nhạt hơn, toàn thân có lông dày tương đương, đầu hình trứng rộng, dpj, mắt kép hình tròn dài, to mà lồi, mắt đơn gần như hình tròn hơi lồi, Cự ly giữa mắt đơn và mắt kép ngắn hơn chiều rộng của mắt đơn. Thóp ở giữa đỉnh đầu, râu đầu 19 đốt
Mối thợ : Đầu màu vàng, râu đầu màu nhạt 18 đốt , đốt thứ 2 dài hơn đốt thứ 3
Tổ mối nổi trên mặt đất dạng mả , có vườn nấm. Các đặc điểm khác cùng giống các loài trong giống
Phân bố : Vân Nam Trung Quốc . và ở Việt Nam là toàn bắc việt nam

Mối đất Sumatra Odontotermes sumatrensis Holmgren

Mối lính: Giống với Odontotermes hainanensis , đầu và râu đầu có màu vàng, Bụng có màu vàng xám. Đầu nhìn từ trên có hình viên chùy, chỗ rộng nhất ở giữa đầu. Hàm trên có dạng lưỡi kiếm , đỉnh nhon của hàm cong vào trong. Hàm trên bên trái ở sau trung điểm có 2 – 3 vết lõm có dạng hình tam giác liền nhau, Ở trước trung điểm hàm trên bên phải cũng có mấy vết lõm nhỏ nhưng không rõ ràng. Râu dầu 16 đốt
Mối thợ: Đầu màu trắng, vàng nhạt, toàn thân có lông dày, sau đầu hình tròn, mép bên hơi thằng, Râu đầu 17 đốt.
Sinh học Tổ mối chìm dưới mặt đất.có khi nổi lên trên mặt đất, trong tổ có vườn nấm, mối lính có khả năng tiết ra chất dịch mùi hôi từ miệng mối để bảo vệ khi gặp nguy hiểm.

Họ mối đất Coptotermes

1. Mục đích

Đặc điểm cơ bản nhất về dấu hiệu hoạt động của các loài mối thuộc giống Coptotermes nhằm giúp người thực hiện có thể nhận biết được bằng mắt thường hoặc thông qua các dụng cụ đơn giản hoặc thiết bị chuyên dùng để nhận biết được giống hoặc loài mối đó.

2. Các dấu hiệu hoạt động

Mối thích di chuyển trong các khe kẽ có sẵn như khe tiếp giáp giữa các khuôn cửa với tường, khe nứt của tường, giữa trụ bê tông và tường gạch. Với đặc điểm này, nên quan sát các cấu kiện gỗ gần các khe tiếp giáp giữa gỗ và tường.

Khi di chuyển, mối thường đắp thành ống bằng đất (đường mui) có mặt cắt ngang hình bán nguyệt và có màu của đất trộn với thức ăn, thường có màu nâu đến nâu đen, độ dày vừa phải và tương đối cứng (hình 1).

Thức ăn của các loài thuộc giống mối Coptotermes chủ yếu là các loại gỗ hoặc các đồ dùng, vật liệu đã chế biến có chứa cellulose như: cột, khung cửa, nẹp cửa, bàn ghế, tủ, tài liệu, vải… Do đó có thể phát hiện các dấu hiệu hoạt động của mối Coptotermes ở các nơi có các vật liệu trên.

Khi khai thác thức ăn, Coptotermes thường ngầm phá hại bên trong cấu kiện gỗ và để lại lớp gỗ bên ngoài để che chắn, ít để lại dấu hiệu bên ngoài nên khó phát hiện bằng mắt thường. Trong trường hợp gặp nguy hiểm mối đập hàm xuống giá thể thành nhịp báo động cho bầy đàn. Những nơi không thấy dấu hiệu hoạt động của mối người ta có thể phát hiện ra mối đang gây hại trong cấu kiện gỗ bằng cách dùng vật cứng gõ nhẹ vào cấu kiện gỗ để kiểm tra mức độ rỗng của gỗ bằng kinh nghiệm nghe hay sử dụng các thiết bị điện tử như máy khuyếch đại âm thanh để phát hiện tín hiệu báo động của mối.

Đặc điểm vết gặm gỗ của Coptotermes dễ phân biệt với các vết gặm của các nhóm mối khác. Mối Coptotermes thường ăn bên trong các cấu trúc gỗ và để lại các tua là lớp gỗ mùa đông, khai thác hết gỗ mùa hè (hình 2). Trong công trình, tại các khe tiếp giáp giữa gỗ và tường, trên bề mặt gỗ thường xuất hiện các mụn đất nhỏ nhô lên khoảng một vài milimet, ở giữa có lỗ nhỏ. Đây là khu vực mối Coptotermes sẽ hoặc đã từng bay giao hoan.

Với các dấu hiệu trên đây, có thể xác định các vị trí có dấu hiệu trên là dấu hiệu hoạt động của mối Coptotermes.

Cho đến nay, ở Việt Nam đã xác định được 7 loài mối thuộc giống Coptotermes. Một số các đặc điểm hình thái đặc trưng của các loài thuộc giống mối này có thể giúp phân biệt với các loài  thuộc giống mối khác như sau:

Mối lính: Mối lính có phần bụng màu trắng sữa đến trắng vàng, đầu màu vàng. Đầu hình ovan hoặc hình trứng. Trên đầu có một lỗ trán lồi hướng về phía trước. Hàm trên bé và cong hình kiếm, có răng cưa ở gốc, còn lại đều trơn không răng .

Khi mối lính bị quấy rối hoặc bị tấn công sẽ tiết ra một dịch màu trắng như sữa từ lỗ trán. Dịch này sẽ chuyển thành chất co giãn như cao su khi tiếp xúc với không khí. Đây là đặc điểm dễ nhận biết nhất của Coptotermes.

Râu có từ 13 đến 16 đốt. Môi trên nhọn, hình lưỡi, tấm lưng ngực trước bằng phẳng.

Trong  tổ mối chỉ có 1 dạng mối lính, một dạng mối thợ, khác với nhóm Macrotermitinae là nhóm mối có 2 dạng mối thợ và một số giống có 2 dạng mối lính.

Mối thợ: Mối thợ có đầu hình tròn, toàn thân màu trắng, hình thuôn dài, tương đối trong. Riêng mặt lưng của phần bụng có thể có vết xám đen, hơi hồng là do màu của thức ăn trong ruột mối .

Mối cánh: Cánh mối có màu nâu đen hoặc vàng nhạt. Đầu hình trứng. Râu gồm 18 – 23 đốt. Thóp ở giữa đầu. Tấm lưng ngực trước hẹp hơn đầu. Vảy cánh trước hẹp hơn vảy cánh sau. Gân cánh hình lưới mờ nhạt, mặt cánh có lông. Đường gân giữa cánh trước độc lập nhô ra từ vết gẫy gập. Đường gân giữa cánh sau do đường gân chính phân ra, đường gân giữa rất gần với đường gãy gập .

 

Họ mối gỗ khô Kalotermitidae Crytotermes 

Nhiều người nhầm tưởng mối gỗ khô là mọt gỗ, vì loài này sống trong gỗ, giấy nhưng không có điều kiên liên hệ với đất, nước, chúng làm tổ trong gỗ sau một thời gian đùn những hạt phân ra ngoài nhỏ 0,3mm như hạt xoan, dài hình trụ và có vết lõm xung quanh, rời rạc, đây là loại mối đích thực..

mối gỗ khô

Các đẳng cấp trong họ thiếu thóp, tấm lưng ngực trước có chiều rộng bằng chiều rộng của đầu hay đôi khi hơi rộng hơn đầu. gấn phía sau có hốc râu có nhiều điểm màu nhạt. Mối trưởng thành có mắt đơn, vảy cánh trước rất to và chùm lên vẩy cánh sau, Không có đẳng cấp mối thợ, àn chân có 4 đốt, lông đuôi có 2 đốt , cuối đốt chày có 1-2 gai ở cuối, Ở nước ta có Crytotermes thường thấy phá hại gỗ trong xâu dựng và đồ gỗ .

Giống mối gỗ khô Crytotermes Banks

Giống mối này không có mối thợ, mối lính, có đầu hình vuông, hơi dài so với rộng dày và cao. Hàm trên ngắn và nhỏ, Mặt trắn gần như vát đứng, đỉnh trán phân ra làm 2 lá , Râu đầu có 11 – 15 đốt, đốt thứ 3 không dài, to đặc biệt, mép trước của tâm lưng ngực trước lõm vào rất rõ. đốt đùi không thô , lông đuôi không rõ, đốt chày có 3 gai ở cuối, mối cánh trưởng thành cũng giống như các giống mối khác trong họ . Râu đầu có 14 – 16 đốt

Mối gỗ khô Crytoptermes Domesticus Haviland

Hình thái :

Mối lính

Trán thẳng đứng hoặc lõm vát vào trong tạo thành mặt nghiêng và mặt nghiêng này cùng với hàm trên hình thành góc giao nhau nhỏ hơn 900 Phần trước của đầu có màu đen về phía sau có màu nâu hồng, hàm trên màu đen. Đầu dày nhìn từ phía trên gần như hình vuông, Hai bên song song, Phần sau tròn, Râu đầu đính ở hai bên phần trước của đầu , phía dưới mỗi hốc chân của râu đầu có môt ú lồi, to và gần như hướng lên phía trên, mắt ở chính phía sau của râu đầu 12-14 đốt , độ dài đố thứ 2 gần bằng nửa đốt thứ nhất , lại tương đối nhỏ, đốt thứ 3 ngắn hơn đốt thứ 2 , đốt thứ 4 thường rất ngắn
Mối cánh:
Đầu có màu vàng tối, ngực bụng, chân , râu đầu có màu vàng nhạt, vảy cán và gân cánh có màu vàng tối, màng cánh không màu, thấu quang, đầu hình vuông dài mắt kép nhỏ, mắt đơn ở phía dưới mắt kép và gần mắt kép , chân môi sau có dạng giải ngang, ngắn, không lồi lên, không phân biệt với trán rõ ràng, độ dàu chân môi trước gần bằng 2 lần chân môi sau, râu đầu có 16 đốt, đốt thứ 3,4,5, bằng nhau hơi ngăn hơn đốt thứ 2, Tấm lưng ngực trước có chiều rộng bằng hoặc hơi rộng so với đầu, ở giữa mép sau và mép trước đều lõm vào trong, vảy cánh trước to hơn vảy cánh sau

Sinh học:
Tổ mối Tổ mối gỗ khô là những khoang rỗng , không có dạng đặc trưng mối, gỗ khô không có liên hệ với đất và nước, không có vườn nấm, bên cạnh những khoang rỗng lớn dài thường có những khoang trung bình và nhỏ , xếp song song, so le với nhau giữa các khoang rỗng này có những lỗ nhỏ, đường kính ≥ 1mm thông với nhau , hoặc có những khe rỗng không tròn liên hệ với nhau và các cá thể mối trong quần thể mối đi lại dễ dàng, Khi gỗ bị mối gỗ khô hại nặng thì lấy ngón tay dí nhẹ trên bề mặt gỗ , hang mối sẽ lộ ra làm mất vẻ đẹp của gỗ, vì khi gậm mối để lại một lớp gỗ mỏng bên ngoai, tổ mối thông ra ngoài bằng một lỗ nhỏ, đường kình khoảng 0,3 – 0,4 m đây là lỗ đùn phân mối ra ngoài, và đồng thời là lỗ vũ hóa, Khi không đùn phân thì mối gỗ khô dùng chính những viên này nút bằng chất nước bọt của mối làm chất dính, khi vũ hóa thì mối gậm thành lỗ to hơn, Thức ăn và tổ mối ở cùng một chỗ
Thời kỳ bay giao hoan : của mối gỗ khô bắt đầu từ mùa xuân và rải rác suốt mùa he , còn các mùa khác cũng thấy mối cánh bay ra trong những ngày nắng ấm.
Con đường xâm nhập vào gỗ: sau khi mối cánh trưởng thành giao hoan bay lượn , rụng cánh, gép đôi rồi sẽ tìm đến những vết nứt của gỗ thích hợp , có độ rộng khoang 1mm, hoặc những lỗ mọt nước hay còn gọi là mọt gỗ tươi, hoặc mọt lỗ tự nhiên có đường kính tượng tự để làm tổ, đôi mối cánh trưởng thành sau khi rụng cánh sẽ là mối vua và chúa của đàn mối, chúng dùng nước bọt và mùn gỗ do chúng gậm ra và tạo ra một thứ hồ quánh bịt lối ra vào làm thành một phòng “cưới” của chúng sau 7-10 ngày thì đẻ trứng, thời gian đầu mối còn “trẻ” thì đẻ ít ( 8-12 trứng . về sau số trứng tăng dần, Mối gỗ khô phá hại rất nhiều loại gỗ ở nước ta

Phân bố:
Ở nước ngoài : Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Malayxia, Indonesia , Solomon , Fiji , Samoa , Xrilanca, Australia

Ở nước ta phân bố rất rộng : Lào cai, Yên Bái, Lai Châu, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc,Hòa Bình, Hà Tây, Phú Thọ, Thái Bình, Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Ninh, Bắc Giang, Lang Sơn, Hải dương, Hưng yên, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, và HCM, đều phát hiện thấy loài này.

Mối Macrotermes Annandalei là một trong các loài mối có kích thước cơ thể lớn nhất ở Việt Nam. Chúng phân bố phổ biến ở vùng đồi, núi ở Việt Nam. Loài mối này thường làm tổ nổi, trong tổ luôn luôn có vườn cấy nấm do mối thợ chế biến và xây dựng từ  các mẩu lá cây, cành cây do mối khai thác được. Khoang chính của tổ có thể nổi hoặc chỡm trên mặt đất nhưng các tổ trưởng thành luôn có ụ đất nổi bên trên mặt đất, đường kính tổ trung bình là 0,7m

diet moi dat

Ở Việt Nam loài mối này gây hại các công trỡnh thủy lợi, nhà cửa và cây trồng. Đối với nền đập và thân đập chúng có khả năng gây hại nguy hiểm vỡ khoang tổ có thể tới 1m, hang giao thông đi xa đến trên 50m. Đối với nhà cửa, loài này vừa tấn công các cấu kiện gỗ, vừa có thể làm lún nứt nền công trỡnh. Chúng cũng là một trong những loài gây hại đối với cây trồng bằng cách tấn công vỏ thân cây, cắn đứt rễ cây và gặm gẫy thân cây non.

Trên thế giới, trước đây việc diệt các loài mối thường được tiến hành bằng biện pháp phun thuốc lây nhiễm. Do nhiều hạn chế của phương pháp này, gần đây người ta sử dụng phổ biến phương pháp diệt mối bằng bả độc. Tuy nhiên, biện pháp bả độc mới chỉ được nghiên cứu sử dụng phổ biến đối với các loài mối gỗ ẩm như: Coptotermes, Reticulitermes, hầu như chưa có nghiên cứu sử dụng bả độc để diệt loài mối có vườn cấy nấm như Macrotermes Annandalei.

Ở Việt Nam, để xử lý loài mối Macrotermes Annandalei ở đập hay nhà cửa, người ta thường khoan tạo lỗ vào tổ mối rồi phun thuốc diệt mối dạng lỏng vào trong tổ mối. Các tổ mối ở trong các vườn cây thường được xử lý bằng cách đào và bắt mối chúa. Biện pháp đào bắt mối chúa thường mang lại hiệu quả thấp, tổ mối thường tái hoạt động trở lại, biện pháp phụt thuốc dạng lỏng vào tổ mối đũi hỏi phải có thiết bị chuyên dùng và nguồn nước nên chi phí rất tốn kém.

Nhằm xây dựng biện pháp diệt đơn giản hơn đối với tổ của loài này, trong bài báo này chúng tôi đề cập đến kết quả nghiên cứu và thử nghiệm biện pháp diệt tổ của loài này bằng bả độc.

Loài mỗi gỗ Formosa  Coptotermes formosanus Shiraki, được coi là một trong những loài côn trùng phá hoại nhất trên thế giới ngày nay. Loài này nguồn gốc không phải từ miền Bắc Carolina (hoặc Hoa Kỳ). Chúng di cư từ nhiều nguồn gốc khác nhau như ở miền nam Trung Quốc đến Đài Loan  và Nhật Bản. Trong 100 năm qua nó chúng đã di cư tới Nam Phi, Hawaii và một số bang của Hoa Kỳ. Chúng còn di cư đến thành phố cảng dọc theo Vịnh Mexico và bờ biển Đại Tây Dương về phía đông nam thông qua các tàu trở về từ Thái Bình Dương vào cuối Thế chiến II. Người ta tìm thấy chúng đầu tiên tại Hoa Kỳ là tại Charleston, SC vào năm 1957. Khoảng tám năm sau đó, nó đã được phát hiện trong một nhà máy đóng tàu ở Houston, Texas và  sau đó được tìm thấy ở Galveston, TX, và New Orleans, LA. Hiện nay, mối Formosa được tìm thấy ở Alabama, Georgia, Florida, Hawaii, Louisiana, Mississippi, Bắc và Nam Carolina, Tennessee và Texas. Một số được tìm thấy gần San Diego, CA vào năm 1992.

cách diệt mối gõ

Mối gỗ Formosa được gọi là “Siêu Mối” vì khả năng tiêu thụ gỗ và bành trướng thuộc địa của chúng nhanh hơn rất nhiều so với các loài mối bản địa khác. Mối chúa có thể sống trong 15 năm và có thể sản xuất khoảng 2.000 quả trứng mỗi ngày. Mối thợ thu thập thực phẩm và duy trì các tổ trong khi mối lính bảo vệ các thuộc địa. Chúng có thể sống 3-5 năm. Một thuộc địa duy nhất có thể chứa hơn một triệu con mối và có diện tích hơn 300 feet. Một thuộc địa trưởng thành sẽ tạo ra một nhóm mới của “alates” hoặc swarmers (mối vua và mối chúa có cánh) là màu đậm hơn so với mối lính. Mối gỗ có cánh Formosa thường bay ra khỏi tổ vào lúc hoàng hôn từ tháng Tư đến tháng Sáu. Mối cánh swarmers có thể được phân biệt với các loài bản địa theo kích thước và cánh của chúng. Mối lính có một hình bầu dục riêng biệt hoặc đầu hình quả trứng so với đầu hình chữ nhật trên mối lính của các loài bản địa dưới lòng đất của mối bản địa.

Nhu cầu ăn uống của mối gỗ  rất lớn chúng sẽ sử dụng bất kỳ nguồn thực phẩm mới miễn là có một nguồn nước gần đó. Các loài mối khác, chỉ tiêu thụ hầu hết các sản phẩm có chứa cellulose bao gồm cả gỗ trong các tòa nhà cùng với các sản phẩm giấy và cây trồng và thực vật. Mối gỗ Formosa có thể xâm nhập những khoảng trống trong thạch cao, nhựa và nhựa đường để đạt được một nguồn thức ăn mới.
Theo một số ước tính, loài mối gỗ khiến Mỹ phải chi phí một năm hơn 1 tỷ USD chi phí sửa chữa những công trình do chúng tàn phá. Chỉ tính riêng ở New Orleans, chúng phá hoại 30% số cây trồng.

Mối Formosan được tìm thấy vào năm 1992 dọc theo bờ biển Bắc Carolina chính xác là tại bãi biển Holden ở quận Brunswick. Chúng đã phá hủy những thanh gỗ thuộc tuyến đường sắt của bang Carolina.

Mọt gỗ thông thường

Hình dạng:

con mot go

Con trưởng thành – dài 3-4mm. Ngực có bướu lớn che phần đầu.
Ấu trùng – thường ẩn trong gỗ.

Vòng đời: 7 năm

Điều kiện thuận lợi để phát triển là 22–23°C.

Rufovillosum Xestobium là bọ cánh cứng đồng hồ chết thuộc họ Anobiidae. Chúng có kích thước nhỏ 4-7 mm. Ấu trùng của thường được tìm thấy ở dưới đất. Mọt gỗ thuồng được tìm thấy chủ yếu trong gỗ có độ ẩm lớn hơn 14%. Ở những khu rừng, những con bọ cánh cứng đồng hồ chết được tìm thấy ở các loài gỗ cứng khác nhau. Khi chúng xâm nhập vào nhà, chúng ta sẽ tìm thấy chúng ở những nơi có đồ gỗ cứng đặc biệt là gỗ hạt dẻ hoặc gỗ sồi. Bọ cánh cứng đồng hồ chết là một loại sâu hại phổ biến nhất ở châu Âu và ở Đông Bắc Mỹ, mặc dù gần như không quan trọng một loài dịch hại.

CÔNG TY DIỆT MỐI THÔNG TÍN – TRUNG TÂM DIỆT MỐI TẠI MIỀN NAM – DIET MOI TAN GOC


Leave a Reply


SIGN INTO YOUR ACCOUNT

 
×
FORGOT YOUR DETAILS?
×

Go up